Sáng 29/10, tiếp tục chương trình làm việc Kỳ họp thứ Tư, dưới sự chủ trì của Phó chủ tịch QH Huỳnh Ngọc Sơn, QH đã nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Đất đai (sửa đổi); Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai; Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Hòa giải cơ sở; Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Phòng, chống khủng bố; Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Giáo dục quốc phòng- an ninh; Tờ trình về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và Tờ trình về dự thảo Nghị quyết về việc lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.
Tán thành với quy định lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Các đại biểu Quốc hội Báo cáo Tờ trình
Trình bày Tờ trình dự án Luật Đất đai (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang nêu rõ sự cần thiết trên quan điểm sửa đổi Luật phải phù hợp với quan điểm, cương lĩnh, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Đảng; bảo đảm ổn định chính trị – xã hội; phù hợp với đường lối đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Ngoài ra, tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý… vì lĩnh vực đất đai là vấn đề lớn, phức tạp và rất nhạy cảm, tác động trực tiếp đến kinh tế, chính trị, xã hội, sự ổn định và phát triển của đất nước.
Nêu báo cáo thẩm tra dự án Luật Đất đai (sửa đổi) của Ủy ban Kinh tế, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu cho rằng, cơ quan soạn thảo đã chuẩn bị nghiêm túc, thực hiện đúng các trình tự, thủ tục theo quy định của Luật ban hành văn bản QPPL. Đi vào một số nội dung cụ thể của dự án Luật, đa số ý kiến tán thành với quy định lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gồm 3 cấp: cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp huyện. Tuy nhiên, một số ý kiến đề nghị cân nhắc tính khả thi của việc thu hồi đất theo kế hoạch sử dụng đất vì khó có đủ nguồn kinh phí cho việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Về hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất, đa số ý kiến tán thành quy định thu hẹp các đối tượng được giao đất không thu tiền sử dụng đất và mở rộng đối tượng được thuê đất. Trước mắt có thể xem xét miễn tiền thuê đất đối với một số đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực khuyến khích xã hội hóa…
Nhiều điều, khoản quy định còn chung chung
Nêu sự cần thiết ban hành Luật Phòng, chống thiên tai, Bộ trưởng Bộ NN và PTNT Cao Đức Phát cho biết, hệ thống pháp luật hiện nay còn thiếu các quy định và chế tài cụ thể về lồng ghép nội dung phòng chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của bộ, ngành và địa phương… Theo đó, dự án Luật Phòng, chống thiên tai bao gồm 5 chương, 46 điều quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc cơ bản trong hoạt động phòng chống thiên tai, chính sách, nguồn lực trong lĩnh vực phòng chống thiên tai, hợp tác quốc tế và những hành vi bị cấm trong hoạt động phòng chống thiên tai.
Cơ bản nhất trí về sự cần thiết ban hành Luật, trong báo cáo thẩm tra dự án Luật Phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Phan Xuân Dũng cho rằng, tờ trình cũng nêu rõ quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo xây dựng Luật về phòng chống thiên tai, kế thừa và pháp điển hóa các quy định còn phù hợp của Pháp lệnh Phòng, chống lụt bão và các văn bản QPPL liên quan… Tuy nhiên, băn khoăn về tính khả thi của các quy định trong dự án Luật, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường nhận thấy, trong dự án Luật có tới 42 điều, khoản quy định còn chung chung, dễ dẫn đến khó thực hiện; 36 điều, khoản có sử dụng một số cụm chưa chuẩn mực về văn phong pháp lý. Do vậy, Ban soạn thảo cần rà soát, nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi cụ thể hơn một số quy định trong dự án Luật để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, nâng cao tính khả thi của Luật.
Tăng cường xã hội hóa đối với hoạt động hòa giải ở cơ sở
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường trình bày Tờ trình dự án Luật Hòa giải cơ sở cho biết, sau 13 năm thực hiện Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở nhằm tăng cường cơ sở pháp lý để tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở có hiệu quả hơn, tạo cơ chế hỗ trợ cho người dân thông qua hoạt động này giải quyết các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ góp phần ổn định trật tự xã hội, tăng cường tình đoàn kết trong cộng đồng dân cư… Tuy nhiên, đến nay việc ban hành Luật nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn cuộc sống, cùng với quá trình phát triển kinh tế – xã hội, các mâu thuẫn và tranh chấp trong cộng đồng dân cư có xu hướng gia tăng và rất đa dạng. Hoạt động hòa giải ở cộng đồng dân cư xuất phát từ chính nhu cầu của cộng đồng dân cư, của người dân được hình thành từ lâu đời, gắn với truyền thống văn hóa dân tộc. Việc xây dựng khung pháp lý cao hơn nhằm điều chỉnh hoạt động hòa giải ở cơ sở sẽ thúc đẩy sự lựa chọn của người dân, sự tham gia cũng như cơ chế phối hợp nhiều bên tham gia vào quá trình hòa giải, đặc biệt là vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc, bảo đảm tính linh hoạt, mềm dẻo, góp phần giải quyết kịp thời các mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ tại địa bàn dân cư.
Nêu quan điểm chỉ đạo xây dựng dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Trương Thị Mai cho rằng, cần nhấn mạnh quan điểm không hành chính hóa và tăng cường xã hội hóa đối với hoạt động hòa giải ở cơ sở. Vì bản chất của hòa giải ở cơ sở là hoạt động tự nguyện của người dân, do người dân tự quản, tự quyết định là chính, do đó phải tạo điều kiện để người dân phát huy tinh thần, ý thức trách nhiệm đối với các tranh chấp, mâu thuẫn nhỏ trên địa bàn ngay từ khi mới phát sinh… Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa hoạt động hòa giải ở cơ sở với các bên khác, đó là sự tham gia của chính quyền, MTTQ, các đoàn thể, những người có uy tín và chính người dân ở cơ sở, cùng với việc nâng cao nhận thức của người dân, cộng đồng và các cấp chính quyền nhằm mang lại hiệu quả tích cực hơn cho công tác này.
Bảo đảm tính khả thi của các quy định trong dự thảo Luật
Tờ trình dự án Luật Phòng, chống khủng bố do Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang trình bày tại QH cho ý kiến gồm 8 chương, 57 điều, với nội dung cơ bản như quy định về phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; chính sách phòng, chống khủng bố; các hành vi bị nghiêm cấm; nguyên tắc phòng, chống khủng bố; trách nhiệm phòng, chống khủng bố… Trong quá trình chuẩn bị dự án Luật, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thành lập Ban soạn thảo, Tổ biên tập dự án Luật gồm đại diện lãnh đạo và chuyên viên của các bộ, ngành, cơ quan ngang bộ gồm các bộ như: Công an, Quốc phòng, Ngoại giao, Tư pháp, Nội vụ, GT- VT, Tài chính, Thông tin và Truyền thông…
Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Quốc phòng và An ninh về dự án Luật Phòng, chống khủng bố do Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh Nguyễn Kim Khoa trình bày cho rằng, cơ bản dự thảo Luật đã kế thừa các quy định có liên quan trong các văn bản QPPL hiện hành về bảo vệ an ninh quốc gia, đấu tranh phòng, chống tội phạm và được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn công tác phòng, chống khủng bố, do đó, về cơ bản các quy định trong dự thảo Luật bảo đảm tính khả thi. Tuy nhiên, cần quy định rõ chủ thể có thẩm quyền xác định vụ việc khủng bố, chủ thể có thẩm quyền quyết định các biện pháp phòng, chống khủng bố như quyết định điều động quân đội, công an tham gia chống khủng bố, quyết định những nội dung cần hợp tác quốc tế…
Huy động tổng hợp nguồn lực xã hội cho công tác giáo dục quốc phòng an ninh
Tờ trình về dự án Luật Giáo dục quốc phòng – an ninh do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh trình bày đã nêu rõ quan điểm, nguyên tắc, mục tiêu và yêu cầu việc xây dựng dự án Luật phải bảo đảm Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng – an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN nói chung, giáo dục QP – AN nói riêng. Dự thảo Luật gồm 6 chương, 42 điều gồm các quy định của pháp luật về giáo dục quốc phòng – an ninh hiện hành đã được thực tiễn kiểm nghiệm thấy phù hợp, đồng thời bổ sung những quy định mới để giải quyết những vấn đề đặt ra trong giáo dục QP – AN.
Tán thành sự cần thiết ban hành Luật Giáo dục quốc phòng- an ninh, Ủy viên UBTVQH, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh Nguyễn Kim Khoa cho rằng, để bảo đảm sự phù hợp với Hiến pháp cũng như tính thống nhất của hệ thống pháp luật, dự án Luật cần được rà soát, cân nhắc kỹ các nội dung để tránh sự trùng lặp, mâu thuẫn giữa các quy định của dự thảo Luật với quy định của các văn bản QPPL có liên quan, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Dự án Luật cần bổ sung quy định cụ thể và chặt chẽ về yêu cầu, nội dung, hình thức và cơ chế tổ chức hoạt động xã hội hóa theo hướng thu hút sự tham gia rộng rãi của cơ quan, tổ chức và cá nhân với các hình thức thích hợp, nhằm huy động tổng hợp nguồn lực xã hội cho công tác giáo dục quốc phòng an ninh, nhất là giáo dục quốc phòng an ninh toàn dân, trên cơ đề cao trách nhiệm công dân tự giác học tập và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
Sửa đổi Hiến pháp 1992 nhằm tiếp tục thể chế hóa chủ trương phát huy dân chủ XHCN
Liên quan đến dự án sửa đổi Hiến pháp 1992, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý, thành viên Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trình bày Tờ trình về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 với một số phạm vi và nội dung sửa đổi, bổ sung căn cứ vào Cương lĩnh, các văn kiện khác của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, Kết luận của Hội nghị Trung ương 5 và Nghị quyết của QH. Ủy ban đã xác định một số nội dung cơ bản trong việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 gồm: sửa đổi Hiến pháp để tiếp tục thể chế hóa và làm sâu sắc hơn chủ trương phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động các lực lượng xã hội phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước; khẳng định và làm rõ hơn vị trí, vai trò, trách nhiệm lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; phát huy nhân tố con người, thể hiện sâu sắc hơn quan điểm bảo vệ, tôn trọng quyền con người, bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân…
Tờ trình về dự thảo Nghị quyết về việc lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 nêu rõ, việc lấy ý kiến nhân dân cần bảo đảm phát huy quyền làm chủ và tạo sự đồng thuận của nhân dân trong việc xây dựng Hiến pháp; Huy động được trí tuệ, tâm huyết của nhân dân tham gia tích cực vào xây dựng dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992… Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân phải được tiến hành dân chủ; Ý kiến đóng góp của nhân dân phải được tập hợp, tổng hợp đầy đủ, chính xác; Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia đóng góp ý kiến… Tại kỳ họp này, QH sẽ xem xét, thảo luận, cho ý kiến lần đầu về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và thông qua Nghị quyết về việc lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.
Buổi chiều, QH thảo luận ở tổ về dự thảo Nghị quyết về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do QH, HĐND bầu hoặc phê chuẩn.
PV (DBND)



Hiện chưa có phản hồi nào.