Nguyễn Sinh Hùng » An Ninh – Chính Trị – Xã Hội » “Xì gà” Scud Việt Nam “lên đời” uy mãnh ra sao?

(An ninh Quốc phòng) - Tổ hợp tên lửa đất đối đất cấp chiến dịch-chiến thuật 9K72 “Elbrus” (Scud–B) được thiết kế để tiêu diệt binh lực, sở chỉ huy, sân bay và các mục tiêu quan trọng, công trình quân sự khác của đối phương.

"Xi ga" Scud Viet Nam “len doi” uy manh ra sao? - Anh 1

Hiện nay trong khu vực Đông Nam Á, duy nhất có Việt Nam sở hữu tên lửa đạn đạo Scud. Một số nguồn tin cho biết Việt Nam sở hữu tên lửa Scud-B. Tuy nhiên, theo tài liệu Cán cân Quân sự năm 2012, của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) đã liệt kê mục “SSM Scud-B/Scud-C (báo cáo)” ở phần tên lửa Việt Nam.

Báo QĐND cho biết Việt Nam đã thành công trong việc sản xuất một trong những thành phần quan trọng trong nhiên liệu lỏng sử dụng cho tên lửa Scud. Theo một số nguồn tin không chính thức, với sự giúp đỡ của chuyên gia nước ngoài, Việt Nam cũng đã cải tiến, nâng cấp tầm bắn tên lửa Scud lên từ 550-700 km và luôn duy trì tốt các đơn vị tên lửa này trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu.

"Xi ga" Scud Viet Nam “len doi” uy manh ra sao? - Anh 2

Tên lửa Scud Việt Nam triển khai ngoài thao trường.

"Xi ga" Scud Viet Nam “len doi” uy manh ra sao? - Anh 3

Một đơn vị tên lửa Scud của Việt Nam.

Tổ hợp tên lửa Scud – B (9K72) được phát triển trong giai đoạn những năm 1958-1961 trong SCB-385 (Kỹ sư trưởng – V.P. Makeev) với một số Phòng thiết kế thử nghiệm (OKB) và các viện nghiên cứu (NII). Các nhà phát triển của các hệ thống chính của tổ hợp tên lửa đã được chỉ định gồm:

NII-592 – hệ thống điều khiển trên thân xe (kỹ sư thiết kế chính – Semikhatov. N.A); OKB-3 – động cơ đẩy giai đoạn đầu của tên lửa bay thử nghiệm (kỹ sư thiết kế chính – D.D. Sevruk, kỹ sư chủ nhiệm thiết kế – NI Leontiev); OKB-5 – động cơ đẩy giai đoạn thứ hai của chuyến bay thử nghiệm (Kỹ sư trưởng – A.M. Isaev, kỹ sư chủ nhiệm thiết kế – N. Malyshev);

NII-944 – bộ phận con quay hồi chuyển (thiết kế chính – V. Kuznetsov);

NII-6 – khối nổ phá và các thiết bị, đầu đạn thông thường trong đầu tên lửa; NII-1011 MSM – khối nổ đặc biệt và thiết bị tự động hóa điện tử (chủ nhiệm khoa học – Khariton, kỹ sư thiết kế chính – S.G.Kocharyants); GSKB – hệ thống các thiết bị mặt đất (kỹ sư thiết kế chính – V.P.Petrov, chủ nhiệm thiết kế Vanin. S.S); 784 nhà máy Kiev SNX – các thiết bị kính ngắm ( kỹ sư thiết kế trưởng Parnyakov.S.P); OKBT nhà máy Kirov Leningrad – Thiết bị khởi động trên xe khung gầm bánh xích ( kỹ sư thiết kế chính – Z.Y .Kotin);

CDB TM – Hệ thống khởi động phóng trên xe khung gầm bánh hơi ( kỹ sư thiết kế chính – N.A.Krivoshein).

Vào thời điểm này quân đội Liên Xô đã sử dụng tên lửa 8K11 trên thiết bị phóng 8U218 và khi phát triển tên lửa 8K14 các nhà thiết kế tập trung vào việc sử dụng các thiết bị-bệ phóng trên mặt đất, được thiết kế cho tên lửa 8K11. Phương pháp sử dụng bệ phóng trên mặt đất này tiết kiệm đáng kể thời gian và tiền bạc cần thiết để xây dựng một phương tiện phóng tên lửa hoàn toàn mới (tên lửa 8K14 được phát triển chỉ trong 3 năm và 5 tháng). Tổ hợp 9K72 với tên lửa 8K14 trên bệ phóng 2P19 (sử dụng thân xe ISU-152K) đã được giới thiệu với Hội đồng Bộ trưởng Liên bang Xô Viết.

Nghị quyết của Hội đồng Bộ trưởng của Liên Xô đã được thông qua ngày 24/3/1962 quyết định đưa vào biên chế trong lực lượng vũ trang Liên Xô. Khung gầm và thân xe bánh hơi không chịu đựng được tải trọng quá lớn của bệ phóng và tên lửa – điều kiện cần và đủ là phải gia cố và tăng cường khung chịu lực.

Sau này đã tiến hành hoàn thiệt bệ phóng 9P117 trên thân xe bốn cầu “MAZ-543A” và được thông qua bởi Hội đồng Bộ trưởng của Liên Xô № 75-26 ngày 27.1.1967. Sau đó các bệ phóng 2P19 được thay thế bằng 9P117, nhưng sự thay đổi này đã không được thực hiện trên toàn bộ Lực lương Lục quân. Vào cuối những năm 1980 bệ phóng tên lửa 2P19 vẫn còn phục vụ trong các lữ đoàn tên lửa ở Kandalaksha và Caucasus, nơi xe bánh xích phù hợp hơn với địa hình.

"Xi ga" Scud Viet Nam “len doi” uy manh ra sao? - Anh 4

Trong những năm dài phục vụ, tổ hợp tên lửa liên tục nâng cấp. Tên lửa nâng cấp 8K14-1 (P-17M) được thay thế bằng các tên lửa 8K14 (R-17) và không khác biệt về các tính năng kỹ chiến thuật. Các tên lửa trên chỉ khác nhau ở khả năng mang các đầu đạn khác nhau. 8K14-1 có thể mang đầu đạn nặng hơn hình dạng khí động học khác có thể được lắp đặt các bình ắc quy (tên lửa các thế hệ sau – đầu đạn hạt nhân với các bình khí nén). Đồng thời cũng không có những khác biệt về bệ phóng đạn. Bệ phóng 2P19 và 9P117 (mọi phiên bản) hệ thống điều khiển thiết bị phóng hoàn toàn giống nhau, có thể hoán đổi cho nhau.

Trong những năm 80 Trung tâm nghiên cứu khoa học tự động hóa và thủy lực (SIIG về tự động hóa và thủy lực) đã tiến hành nghiên cứu phát triển thiết kế thử nghiệm(R & D) chế tạo đầu đạn có thể tháo rời với hệ thống tự dẫn quang-điện tử cho R-17. Đã phát triển thuật toán phần mềm và phần mềm,các thiết bị hệ thống tự dẫn quang điện tử, hệ thống điều khiển thiết bị của đầu đạn trên tên lửa on-board, các trang thiết bị mặt đất xử lý hình ảnh mẫu chuẩn mục tiêu và các thiết bị nạp thông tin nhiệm vụ vào máy tính đường đạn ở phần đầu đạn của tên lửa.

Tên lửa nâng cấp được phóng thử nghiệm trong năm 1984. Hệ thống mới được gọi là “aerophones” nhưng các lần phóng thử nghiệmcho thấy kết quả phụ thuộc lớn vào điều kiện thời tiết tại khu vực địa hình phóng tên lửa và khu vực mục tiêu, chính vì vậy mà tổ hợp tên lửa nâng cấp không được đưa vào biên chế.

Tổ hợp tên lửa được xuất khẩu rộng rãi sang các nước Hiệp ước Warsaw, Iran, Iraq, Libya, Syria, Yemen, Việt Nam và những nước khác. Theo Ủy ban Bộ trưởng Quốc phòng của khối Hiệp ước Warsaw trên 1989/01/30 tại các nước thuộc khối Hiệp ước Warsaw đã được biên chế 661 tổ hợp tên lửa R-17.

9K72 hiện nay là lỗi thời, cồng kềnh, nhưng đủ độ tin cậy và vẫn còn trong biên chế, khai thác và sử dụng, mặc dù sản xuất tên lửa và các trang thiết bị, phụ tùng đã được dừng vào trong cuối thập niên 80. Khối quân sự NATO đã đặt tên hiệu của tổ hợp là “Scud”-B.

Cấu tạo hệ thống tên lửa Scud Elbrus

"Xi ga" Scud Viet Nam “len doi” uy manh ra sao? - Anh 5

1- Tấm chắn luồng nhiệt bệ phóng.

2- Bệ phóng 9N117.

3- Chân đế ổn định xe bệ phóng tên lửa.

4- Bảng điều khiển hệ thống chân đế ổn định và phóng đạn.

5- Bình chữa cháy.

6- Bảng điều khiển nâng/hạ bệ phóng.

7- Hộp đựng dụng cụ.

8- Chỗ ngồi cho trắc thủ trong buồng điều khiển.

9- Buồng điều khiển công tác chuẩn bị phóng.

10- Lưới lọc quạt thông gió.

11- Chỗ ngồi của kíp trắc thủ tên lửa.

12- Bình khí nén khởi động động cơ xe bệ phóng.

13- Bậc thang lên buồng lái.

14- Vị trí của lái xe.

15- Đèn pha.

16- Khoang động cơ.

17- Phần trên của khung nâng đạn.

18- Cửa hút không khí động cơ.

19- An ten đài vô tuyến điện.

20- Khoang kíp xe và đài vô tuyến điện.

21- Ngoàm khóa giữ đạn của khung nâng – đang mở.

22- Khung nâng đạn – đã hạ.

23- Buồng điều khiển bơm.

24- Thùng chứa chất ô xi hóa.

25- Thùng chứa nhiên liệu.

26- Khoang thiết bị hệ thống điều khiển số 1.

27- Lượng thuốc nổ đầu đạn tên lửa.

28- Đầu đạn 8F44F.

29- Thiết bị kích nổ va chạm

30- Bộ phận kích nổ đáy

31- Khoang thiết bị hệ thống điều khiển số 2

32- đường ống bọc cáp.

33- Đường ống dẫn nhiên liệu xuống động cơ.

34- Đường ống dẫn chất ô xi hóa.

35- Máy nén tuốc bin tăng áp của động cơ

36- Động cơ 9D21

37- Khí nén dùng khởi động hệ thống nhiên liệu

"Xi ga" Scud Viet Nam “len doi” uy manh ra sao? - Anh 6

Bệ phóng đạn tên lửa nhìn từ phía sau.

Biên chế của tổ hợp tên lửa 9K72 bao gồm:

Các tên lửa 8K14

Tùy theo yêu cầu nhiệm vụ, trên tên lửa có thể lắp các loại đầu đạn khác nhau như:

8F44, 8F44G1, đạn 269A trong vỏ đầu đạn 8F14, 3N8, đạn RA17 trong vỏ đầu đạn 9N33, RA104 trong vỏ đạn 9N33-1, RA104-1 trong vỏ đầu đạn 9N33, RA104-2 trong vỏ đầu đạn 9N33-1B.

Phương tiện, trang thiết bị nâng hạ vận tải:

2T3 (2T3M, 2T3M1) – xe vận tải đạn đường bộ.

9F21MA (9F21MU) 2U662D (2U662DU) 2U662M (2U662MU) 9F223 – xe trở và lưu giữ, bảo quản tên lửa, vào những năm 80-x đã thay thế bằng xe vận tải đặc biệt loại 8M257U1, NG2V1, NG22V1 (được phát triển từ các xe vận tải đặc biệt siêu trường, siêu trọng)

ZIL-157 (ZIL-131, Ural-4320) – xe vận tải được thiết kế để vận chuyển các tên lửa đã được lắp đặt đầy đủ trong container 9103-0.

8T22, 9T31M (9T31M1) – xe cẩu đặc chủng (có thể sử dụng xe KS2573)

9T37 – tổ hợp thiết bị cẩu

9T55A – tổ hợp thiết bị giá vận chuyển tên lửa.

Xe tiếp nhiên liệu với các thiết bị cấp nhiên liệu tên lửa:

2G1U (2G1), 9G29 (9G29M) – Xe cấp nhiên liệu với thiết bị cấp nhiên liệu tự động hóa (dầu- xăng)

8G17M1, 9G30 – Xe cấp nhiên liệu với thiết bị tự động hóa bơm oxy hóa (có thể sử dụng ASC-4-255B)

8T311 (8T311M) – Xe được trang bị thiết bị vệ sinh-trung hòa chất o xi hóa khử.

8G33U, UKS-400V – trạm nén khí hoàn chỉnh với thiết bị đồng hồ đo chỉ số độ ẩm 8SH31

Thiết bị kiểm tra và thử nghiệm:

2V11 (2V11M1) – xe máy thử nghiệm mặt phẳng ngang (IGI)

9V41 (9V41M) – Xe máy thử nghiệm khả năng công tác của tổ hợp(MAI)

8N01 (8N01M) – Xe máy phát điện bằng dầu diesen, có thể thay thế bằng trạm nguồn ESB-12-VS400 (máy phát điện diesel ESD-10)

Thiết bị bệ phóng tên lửa:

9P117 (9P117-1 9P117M, 9P117M1, 9P117M1-1 9P117M1-3) – Xe bánh hơi và trang thiết bị phóng đạn với thiết bị quang học ngắm và đo góc 8SH18.

2P19 (2P19-1) – Xe bánh xích và trang thiết bị phóng đạn với thiết bị quang học ngắm và đo góc 8SH18.

Các xe trang thiết bị phụ kiện và hỗ trợ hậu cần, kỹ thuật:

2SCH1 (2SCH1M2) – xe mang thiết bị, phụ tùng và cơ sở vật chất thay thế.

2T5 – thiết bị xe đẩy chứa tên lửa

8G27 (8G27U, 8G27K) – máy sấy không khí

8YU11 (8YU11U) – lều bạt có thiết bị sưởi

8YU44 (8YU44M) – phòng thí nghiệm hóa học cơ động

9V292 – Thiết bị máy “điều khiển” (Hoặc máy Polina)

9T114 – Xe đẩy để vận tải hàng không(các đầu đạn tên lửa trong thùng tiêu chuẩn).

"Xi ga" Scud Viet Nam “len doi” uy manh ra sao? - Anh 7

9P117M xe vận tải và bệ phóng (phương tiện mang tên lửa “xe tên lửa”) được phát triển dựa khung gầm thân xe bốn cầu MAZ-543. động cơ diesel D12A-525 Mười hai xi lang làm mát bằng chất lỏng (nước hoặc chất lỏng chống đông) với công suất đầu ra 525 mã lực ..tốc độ quay là 2000 vòng/phút cho phép vận chuyển trang thiết bị phóng tên lửa và một tên lửa dày đã nạp đủ nhiên liệu và lắp đầu đạn sẵn sàng chiến đấu, di chuyển với tốc độ 15km / h trên đường đất và 45 km / h trên đường nhựa. Động cơ được đặt ở khoang trước của xe tên lửa.

Ở hai bên của đầu xe là hai cabin ghế kép, được chế tạo bằng nhựa polyester gia cố bằng sợi thủy tinh. Chỗ ngồi trong cabin được đặt song song. Các bánh xe tên lửa đều là bánh chủ động, với một hệ thống điều chỉnh áp suất không khí trong lốp xe. Cặp bánh đầu tiên và thứ hai của xe là bánh lái. Tất cả các bánh xe có hệ thống treo giảm xóc độc lập.

"Xi ga" Scud Viet Nam “len doi” uy manh ra sao? - Anh 8

Tính năng kĩ chiến thuật của khung thân xe 9P117M:

Trọng lượng:

— Bao gồm cả tên lửa đã nạp nhiên liệu: 37.400 kg

— Không có tên lửa 30.600 kg

"Xi ga" Scud Viet Nam “len doi” uy manh ra sao? - Anh 9

Kích thước chung

– Chiều dài thân xe: 13.360 mm

– Chiều rộng thân xe: 3.020 mm

– Chiều cao khi cơ động: 3.330 mm

– Chiều cao trong trạng thái chiến đấu : 13.670 mm

– Phù hợp toa xe vận tải đường sắt:

— Theo tiêu chuẩn đường sắt Liên Xô : Toa xe cỡ 1V

— Theo tiêu chuẩn đường sắt phương Tây: Toa xe cỡ 02-T

– Trọng tâm ngang theo trục dọc thân xe:

— Từ mặt đất : 1.720 mm

— Từ điểm xa nhất: 6.400 mm

– Chế độ lái: lái bán tự động có trợ lực tay lái.

Trang thiết bị thông tin liên lạc:

— với bên ngoài : đài vô tuyến điện R-123

— nội bộ : thiết bị đàm thoại nội bộ R-124

– Động cơ diesel 12 xi lanh: D12A-525A

– Công suất với tốc độ vòng quay trung bình 2.100 vòng/phút : 525 mã lực

Xe có sat xi 4 cầu 8 bánh với hệ thống giảm xóc treo độc lập, hai cầu trước là cầu lái. Bánh xe có chế độ bơm hơi tự động.

Khung xe cơ bản dài – 7700 mm

Khoảng sáng gầm xe – 440 mm

Khổ rộng thân xe – 2375 mm

Tốc độ cơ động với tên lửa chưa nạp nhiên liệu và chưa lắp đầu đạn:

– đến 60 km/h trên đường nhựa, đoạn đường hành quân đến 2000 km.

– đến 40 km/h trên đường đất, đoạn đường hành quân 500 km.

Tốc độ cơ động với tên lửa chưa nạp nhiên liệu và đã lắp đầu đạn: 10 km/h trên khoảng cách đến 15 km nhẹ nhàng.

Tốc độ hành quân với tên lửa đã nạp nhiên liệu, có đầu đạn và không có đầu đạn 60 km/h đường nhựa, 40 km/h đường đất trên đoạn đường hành quân 2000 km.

Dự trữ hành trình – 650 km (đường nhựa), 500 km (đường đất)

Bán kính vòng xe – 13.5 m

Vượt hào chướng ngại vật rộng: 2,5 m

Thời gian nâng giá đỡ tên lửa không có đạn – 2.0-3.5 phút

Thời gian nâng tên lửa vào vị trí phóng – 2.25-3.5 phút

Thời gian hạ giá phóng tên lửa không đạn – 3.0-4.4 phút

Thời gian hạ tên lửa về vị trí cơ động hành quân – 3.0-4.0 phút

Góc phóng mặt phẳng ngang +80 độ.

Tên lửa 8K14

"Xi ga" Scud Viet Nam “len doi” uy manh ra sao? - Anh 10

"Xi ga" Scud Viet Nam “len doi” uy manh ra sao? - Anh 11

"Xi ga" Scud Viet Nam “len doi” uy manh ra sao? - Anh 12

Đuôi đạn tên lửa.

"Xi ga" Scud Viet Nam “len doi” uy manh ra sao? - Anh 13

Thân tên lửa.

Tên lửa 8K14 – là tên lửa đạn đạo với động cơ tên lửa sử dụng nhiên liệu lỏng (LRE), hệ thống điều khiển đạo hàng quán tính tự định hướng, hệ thống tự hủy đầu đạn khi có sự cố và các đầu đạn không thể tháo rời trên quỹ đạo bay. Động cơ nhiên liệu lỏng (LRE) đẩy tên lửa bay với tầm bắn tối đa là 300 km (bán kính tối thiểu – 50 km). Tầm bắn hiệu quả là – 275 km. Dự trữ nhiên liệu của động cơ-100s. Hệ thống điều khiển tên lửa 8K14 được thiết kế để chuẩn bị khởi động động cơ tên lửa, phóng tên lửa và điều khiển đường bay của tên lửa.

Hệ thống tự hủy tên lửa trên đường bay(APR) được thiết kế để phá hủy đầu đạn trong không khí trong trường hợp tên lửa không bay đúng quỹ đạo điều khiển. Tầm cao tối đa của quỹ đạo của tên lửa – 86 km, tối thiểu – 24 km. Thời gian bay – từ 165s đến 313s. Hệ thống điều khiển tên lửa duy trì độ lệch trung bình theo hình trụ tròn xoay có chiều dài từ 180 đến 610m và chiều rộng từ 100 đến 350m. Bộ phận điều khiển đường bay tên lửa là các vòi khí động lực, đặt ở miệng ống phụt của vòi phun.

"Xi ga" Scud Viet Nam “len doi” uy manh ra sao? - Anh 14

Động cơ tên lửa nhiên liệu lỏng

"Xi ga" Scud Viet Nam “len doi” uy manh ra sao? - Anh 15

Hệ thống con quay hồi chuyển hướng thẳng đứng.

Tên lửa được nạp nhiên liệu:

AK-27 Chất oxy hóa “Melange” (trọng lượng – 2919 kg, mật độ – 1,596-1,613),

Axit nitric đậm đặc – 69,8-70,2%

đinitơ tetroxide N2O4- 24 – 28%

Nước – 1,3-2%

Muối nhôm – không quá 0.01%

I-ốt – 0,12-0,16% (chất ức chế)

Nhiên liệu chính TM-185 (trọng lượng – 822 kg)

Polimerdistillyat – 56 + 1,5%

Dầu nhẹ nhiệt phân – 40 + -1.0% (tăng mật độ và tăng cường khả năng chống oxy hóa bởi oxy)

Trikrizol – 4 + -0.5% (chất chống đông ở nhiệt độ thấp)

Nhiên liệu phóng TG-02 “Samin” (trọng lượng – 30 kg, mật độ 0,835-0,855)

Xylidines đồng phân – 50 + -2%

Triethylamine công nghiệp (Samin)- 50 + -2%

Nước – 0,4%

Khí nén (tính theo trọng lượng – 15 kg).

Tên lửa 8K14 được trang bị đầu đạn hạt nhân 9N33 (PA-17), 9N33-1 (PA-104, PA-104-1, RA-104-2) hoặc 8F14 (269A) đương lượng nổ lên đến 10 kT (đạn loại RDS-4), đầu đạn 8F44 nổ phá , đầu đạn hóa học 8F44G1 (khối lượng khí gas V-555kg). Trọng lượng đầu đạn nặng – 987kg.

Đầu đạn (MS) được gắn với thân tên lửa bằng 16 bu lông với đệm vênh khóa chống thôi ốc. Để đảm bảo kết nối chính xác giữa đầu đạn với thân tên lửa có hai vấu định vị. Khi hai mặt bích khới nối với nhau, khe hở được bịt kín lại và niêm phong bằng băng polyethylene với một lớp keo dính GOST 20.477-75.

Để cung cấp nguồn điện với đầu đạn của tên lửa là các giắc cắp kết nối GSHR1, GSHR2, SH5A và 03. Thông qua các giắc kết nối GSHR1 và GSHR2 hệ thống thiết bị kiểm soát đầu đạn kết nối hệ thống mạch điều khiển tên lửa (thông qua giao diện hệ thống mạch điều khiển với đầu đạn tên lửa phần cứng).

(Theo VietTimes)

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@nguyensinhhung.net

Share on Link Hay! Share on Facebook! Tweet This!